Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Vũ Văn Toàn - toanvv

81 Trang «<65666768697071>»
  • Xem thêm     

    04/11/2017, 09:53:53 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Hiện nay Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực, căn cứ theo Điều 21 Nghị định 43/2014 về hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013 thì việc chứng minh sử dụng đất ổn định như sau:

    1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

    2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

    a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

    b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

    c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

    d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

    đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

    e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

    g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

    h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

    i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

    k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

    3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

    4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.”

    Bạn căn cứ vào quy định trên và thực tế sử dụng đất của mình để chứng minh việc sử dụng đất ổn định. 

  • Xem thêm     

    02/11/2017, 11:43:41 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Tại Khoản 1, 2 Điều 79 Luật đất đai 2013 có quy định như sau:
    “Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
    1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
    a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;
    b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
    2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.”
    Theo đó, gia đình bạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được nhà nước bồi thường như sau:
    – Nếu gia đình bạn không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã Phụng Châu thì tùy vào điều kiện tại địa phương mà được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Nếu gia đình bạn muốn được nhà nước bồi thường bằng tiền thì được bồi thường bằng tiền.
    – Nếu gia đình bạn còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã Phụng Châu thì được bồi thường bằng tiền. Ngoài ra, nếu quỹ đất ở tại địa phương bạn cho phép thì bạn có thể được nhà nước xem xét bồi thường bằng đất ở.
    Ngoài ra, nếu gia đình bạn phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở như nêu trên mà không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
    Gia đình bạn còn được hỗ trợ tái định cư nếu phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất theo quy định tại Điều 22 Nghị định 47/2014/NĐ-CP như sau:
    “Điều 22. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
    Việc hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
    1. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất
    2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp.”
     
  • Xem thêm     

    01/11/2017, 10:54:10 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo quy định hiện hành, trường hợp không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng được xác định là không hợp pháp… thì di sản thừa kế của người chết được chia theo pháp luật.

    Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

    Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

    Khoản 3 Điều này quy định những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

    Căn cứ quy định nói trên, do bố bạn không để lại di chúc nên di sản của bố bạn sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: mẹ kế và 4 anh em bạn. Việc mẹ kế của bạn muốn sở hữu riêng (đòi thừa kế) toàn bộ lô đất 1.000 m2 là không có căn cứ.

    Về việc xác định di sản thừa kế:  Do không có căn cứ xác định thời điểm bố mẹ  bạn sống chung như vợ chồng với nhau trước hay sau ngày 1 tháng 3 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên chưa xác định được pháp luật có coi 2 người là vợ chồng hay không. 

    Trường hợp thứ nhất: Bố mẹ chồng bạn chung sống trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 thì bố mẹ chồng bạn được pháp luật công nhận là vợ chồng.

    Trường hợp thứ hai: Bố mẹ chồng bạn chung sống từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 thì do bố mẹ chồng bạn không có đăng ký kết hôn nên về mặt pháp lý sẽ không được công nhận là vợ chồng.

    Như vậy, trong trường hợp này, bạn và anh chị em ra, bạn và những người con khác của bố bạn và mẹ kế cũng được hưởng phần di sản thừa kế của bố bạn(nếu mẹ kếthuộc trường hợp thứ nhất). 

     Thủ tục khai nhận di sản thừa kế:

    - Chủ thể tiến hành: Tất cả những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của bố bạn.

    Nếu chia di sản theo pháp luật thì những người thừa kế của bố bạn được xác định theo điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật Dân sự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Do ông bà nội của bạn đã mất từ lâu nên sẽ có hai khả năng:

    - Cơ quan tiến hành: Bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có bất động sản.

    - Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

    + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    + Giấy chứng tử của bố bạn;

    + Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

    + Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

    - Thủ tục:

    Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

    Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 49 Luật Công chứng. Trong văn bản, những người thừa kế khác có thể tặng cho toàn bộ quyền hưởng di sản cho mẹ bạn để mẹ bạn trở thành chủ sử dụng toàn bộ thửa đất do bố bạn để lại.

    Thủ tục sang tên mẹ bạn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai).

    - Chủ thể tiến hành: Mẹ bạn.

    - Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký đất đai.

    - Hồ sơ:

    + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    + Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế;

    + Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

    + Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

    - Trình tự, thủ tục:

    + Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

    + Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

     Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

     Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

    Trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất; Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã. Nếu bạn có vướng mắc gì thì liên lạc với tôi để được hướng dẫn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    01/11/2017, 10:34:04 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Căn cứ quy định tại điều 188, Luật đất đai năm 2013 như sau :

    " Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

    1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

    a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

    b) Đất không có tranh chấp;

    c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

    d) Trong thời hạn sử dụng đất.

    2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

    3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính". 

    Như vậy, việc mua bán đất mà không có giấy chứng nhận sử dụng đất theo quy định như trên thì không hợp pháp. Mua bán đất phải có giấy chứng nhận sử dụng đất, hợp đồng mua bán phải có công chứng hoặc chứng thực. Nếu trong trường hợp xảy ra tranh chấp thì quyền và nghĩa vụ của bạn sẽ không được pháp luật bảo vệ và giao dịch mua bán đất này của bạn bị coi là vô hiệu. Diện tích 28m2 đất là không phù hợp với quy định được nhà nước công nhận tại Thị xã Dĩ An Tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 25/2017/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Bình Dương. Nếu còn vướng mắc bạn có thể trực tiếp gọi điện để được tư vấn giúp đỡ.

  • Xem thêm     

    01/11/2017, 10:03:56 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo quy  định tại Điều 603 BLDS 2015 thì:
    – Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
    – Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
    Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường;
    Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
    Như vậy bạn là  chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chiếm hữu, quản lý và sử dụng đàn bò  là hợp pháp. Tuy nhiên, bạn có sơ ý để bò vào ăn một vườn cỏ nhà hàng xóm mà gây thiệt hại cho nhà hàng xóm thì bạn phải có trách nhiệm bồi thường cho họ
    Con bò nhà bạn đã bị hàng xóm chém cụt chân có thể đã có hành vi hủy hoại tài sản người khác, đồng thời chưa xác định được mức độ thiệt hại là bao nhiêu (giá trị của con bò có thể chết) nên tôi chưa thể kết luận rằng hành vi trên nếu xảy ra đã đủ yếu tố cấu thành Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hay chưa? Tuy nhiên, bạn có thể tố giác với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác về hành vi của  họ cho rằng đó là tội phạm và để đảm quyền lợi hợp pháp của mình thì bạn hoàn toàn có thể đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án để tố giác hành vi của người hàng xóm. Sau khi xác định có hành vi có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố và giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Nếu về thực tế nhà hàng xóm có hành vi gây thiệt hại về tài sản là chém con bò cụt chân đến chết thì hàng xóm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn. Mức bồi thường do hai bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì hàng xóm phải bồi thường các khoản sau:
    - Giá trị tài sản bị huỷ hoại (giá trị thực thế của con bò) ;
    - Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản (nếu có);
    Nếu sau khi tố giác tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền xác định có hành vi hủy hoại tài sản và hành vi này là hành vi phạm tội thì việc giải quyết bồi thường thiệt hại sẽ được tiến hành cùng với quá trình giải quyết vụ án hình sự.
    Nếu cơ quan có thẩm quyền xác định không có hành vi phạm tội hoặc có hành vi trên thực thế nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời bạn vẫn cho rằng hàng xóm đã có hành vi gây thiệt hại cho mình và có căn cứ chứng minh điều đó thì bạn  có thể khởi kiện ra Tòa án đển bảo về quyền lợi hợp pháp của mình.
    Trên đây là nội dung tư vấn của tôi cho vấn đề bạn hỏi nếu còn vấn đề gì chưa rõ hoặc có trường hợp tương tự đang vướng mắc các bạn có thể trực tiếp gọi điện thoại để được luật sư tư vấn giúp đỡ.

  • Xem thêm     

    29/10/2017, 10:36:14 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Vấn đề của bạn là bạn đang muốn hợp 2 thửa đất lại với nhau, việc tách thửa hay hợp thửa đất là việc thay đổi diện tích đất mà bạn đang sử dụng, về mặt thực tế thì bạn vẫn sử dụng những thửa đất đó, tuy nhiên, về mặt giấy tờ pháp lý thì bạn cần thực hiện hợp thửa đất để thủ tục về sau không còn phức tạp và dễ dàng hơn trong việc sử dụng đất cũng như bảo quản các giấy tờ về quyền sử dụng đất. Hợp thửa đất có thể là việc hợp thửa đất của hai chủ sử dụng khác nhau hoặc của một chủ sở hữu (khi muốn thống nhất về mặt giấy tờ). Để được hợp thửa đất thì việc hợp thửa đất chỉ thực hiện đối với các thửa đất có cùng mục đích sử dụng đất, có nghĩa là Hợp thửa đất sẽ trở thành một thửa đất cho nên thửa đất đó phải có cùng mục đích sử dụng đất, bạn cần xem xét hai thửa đất mà bạn định hợp thửa có cùng mục đích sử dụng đất hay không? nếu có cùng mục đích sử dụng đất thì bạn thực hiện thủ tục hợp thửa như bình thường, còn nếu không cùng mục đích sử dụng đất thì bạn phải thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật để được Hợp thửa đất

  • Xem thêm     

    29/10/2017, 10:26:50 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo khoản 1 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014, trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 89, cụ thể như sau:
    “Công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:
    a) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;
    b) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;
    c) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;
    d) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;
    đ) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;
    e) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
    g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;
    h) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;
    i) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;
    k) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa;
    l) Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại các điểm b, d, đ và i khoản này có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ…”
    Như vậy, nếu việc xây dựng của bạn không thuộc một trong các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng 2014 vừa trích dẫn ở trên thì khi xây dựng công trình trên đất của mình bạn phải xin giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
     
  • Xem thêm     

    25/10/2017, 10:41:22 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Việc sử dụng quyền sử dụng đất làm tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ dân sự là thủ tục không đơn giản, phải tuân theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Việc bạn nói rằng quyền sử dụng đất đã được cầm cố, sau đó lại mang bán và  cho người khác là thiếu tính pháp lý và có thể không phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, quyền sử dụng đất đã đem cầm cố rồi đem bán và tặng cho nên không thể mang như bạn nêu được. Việc bán quyền sử dụng đất không đủ cơ sở pháp lý để người đó có quyền đối với thửa đất của gia đình đó. Bạn hoàn toàn có thể yêu cầu người sử dụng đất thỏa thuận lại với mình.

    Trong trường hợp dùng tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình theo quy định của pháp luật (thế chấp, bảo lãnh tài sản...) thì bạn cần xác định:

    (i) Việc giao kết hợp đồng/giao dịch để thực hiện các biện pháp bảo đảm tài sản của bạn có đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật hay không?

    (ii) Việc dùng quyền sử dụng đất làm tài sản bảo đảm có được sự đồng ý của tất các chủ sử dụng đất hay không? Theo đó, bạn cần xác định: Thửa đất thuộc quyền sử dụng của những ai? Là tài sản riêng của anh trai bạn hay là tài sản chung của nhiều người? việc mua bán, tặng cho có đúng quy định hay không

    Nếu bạn và người cầm cố thực hiện không đúng trình tự, thủ tục, thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và yêu cầu người cầm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trả lại cho gia đình mình.

    Nếu anh trai bạn thực hiện giao dịch bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật về thực hiện giao dịch bảo đảm thì có thể hủy toàn bộ các giao dịch mua bán tặng cho nêu trên Bộ luật dân sự quy định về các trường hợp chấm dứt thế chấp/cầm cố tài sản như sau:

    Theo Ðiều 315 Bộ luật dân sự 2015 Việc thế chấp tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

    "1. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.

    2. Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

    3. Tài sản cầm cố đã được xử lý.

    4. Theo thỏa thuận của các bên."

    Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh, có căn cứ cho rằng quyền và nghĩa vụ của bạn liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên bị ảnh hưởng thì bạn có thể khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền để được giải quyết theo luật định.

  • Xem thêm     

    24/10/2017, 01:45:00 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Đất của bố mẹ bạn chưa có sổ đỏ nhưng nếu bố mẹ bạn nhận tặng cho từ ông bà nội (giấy viết tay) nhưng chưa xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất thì bố mẹ bạn vẫn là người có quyền đối với mảnh đất. 

    Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì người sử dụng đất có các giấy tờ sau đây mà không có tranh chấp thì cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

    Các giấy tờ khác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

    1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980.

    2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

    a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

    b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

    c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này.

    3. Dự án hoặc danh sách hoặc văn bản về việc di dân đi xây dựng khu kinh tế mới, di dân tái định cư được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    4. Giấy tờ của nông trường, lâm trường quốc doanh về việc giao đất cho người lao động trong nông trường, lâm trường để làm nhà ở (nếu có).

    5. Giấy tờ có nội dung về quyền sở hữu nhà ở, công trình; về việc xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, xây dựng chứng nhận hoặc cho phép.

    6. Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, cấp tỉnh; Đơn đề nghị được sử dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt, chấp thuận trước ngày 1/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, cấp tỉnh phê duyệt, chấp thuận.

    7. Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí đất cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân (cấp) cho cán bộ, công nhân viên bằng vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc do cán bộ, công nhân viên tự đóng góp xây dựng.

    8. Bản sao giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và các giấy tờ quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này có xác nhận của UBND cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành cấp huyện, cấp tỉnh đối với trường hợp bản gốc giấy tờ này đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ đó.

    Như vậy, với những quy nêu trên, nếu bố mẹ bạn có một trong các giấy tờ đã được viện dẫn và đất đó không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, trong thời hạn sử dụng đất thì bố mẹ bạn có quyền thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất.

    Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bố mẹ bạn có thể tiến hành các giao dịch như mua bán, tặng cho,.. theo quy định của pháp luật. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    24/10/2017, 12:37:07 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Trường hợp của bạn xin tư vấn như sau:

    Căn cứ theo Điều 605 Bộ Luật dân sự 2015 (BLDS) về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thì “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác”.

    Căn cứ vào quy định nêu trên, nếu nhà kề bên gây ảnh hưởng, thiệt hại đến các nhà xung quanh thì nhà kề bên đó phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với sự cố do công trình của mình gây ra.

    Về mức độ bồi thường thiệt hại: mức độ bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận, căn cứ theo quy định của pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra, cụ thể gồm: mức thiệt hại thực tế đối với công trình lân cận bị hư hỏng và các chi phí khác có liên quan.

    Các bên có thể tự xác định mức thiệt hại của công trình liền kề nếu không tự xác định được mức độ thiệt hại thì một trong hai bên có thể thuê cơ quan định giá để xác định mức thiệt hại cụ thể để làm căn cứ bồi thường. Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại.

    Trong trường hợp này, nếu các bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận không thỏa đáng  bạn có thể làm Đơn gởi đến Tòa án nhân dân quận huyện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    24/10/2017, 12:03:10 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Để bạn toàn quyền sử dụng thửa đất thì gia đình bạn cần tiến hành thủ tục thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do bố mẹ bạn để lại. Trình tự, thủ tục như sau:

    1. Thủ tục khai nhận di sản thừa kế:

    - Chủ thể tiến hành: Tất cả những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của bố bạn.

    Nếu chia di sản theo pháp luật thì những người thừa kế của được xác định theo điểm a khoản 1 điều 651 Bộ luật Dân sự 2015: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Do bố mẹ của bạn đã mất nên sẽ có hai khả năng:

    - Cơ quan tiến hành: Bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh, thành phố hoặc UBND xã phường nơi có bất động sản.

    - Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực gồm:

    + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    + Giấy chứng tử của bố mẹ bạn;

    + Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

    + Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

    - Thủ tục:

    Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

    Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 49 Luật Công chứng. Trong văn bản, những người thừa kế khác có thể tặng cho toàn bộ quyền hưởng di sản cho mẹ bạn để mẹ bạn trở thành chủ sử dụng toàn bộ thửa đất do bố bạn để lại.

    2. Thủ tục sang tên bạn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai).

    - Chủ thể tiến hành: Mẹ bạn.

    - Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký đất đai.

    - Hồ sơ:

    + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

    + Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế;

    + Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

    + Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

    - Trình tự, thủ tục:

    + Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

    + Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

     Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

     Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

    Trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất;

    Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    24/10/2017, 11:47:30 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Bạn đã mua đất bằng giấy viết tay, theo quy định Luật đất đai 2013, Luật công chứng 2014, giao dịch liên quan đến bất động sản phải được công chứng mới hợp pháp. Do đó, việc bạn có giấy viết tay, có chữ ký của người bán và tổ trưởng tổ dân phố chư đảm bảo về mặt hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bạn nên gặp lại người chủ đất ký lại hợp đồng chuyển nhượng có công chứng để đảm bảo về mặt hình thức.

    Căn cứ Khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng,; an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

    "1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

    Như vậy, căn cứ theo các quy định trên, hiện nay bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên nếu bạn có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì bạn vẫn được bồi thường khi thu hồi đất. Điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với bạn trong trường hợp này bạn cần có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp, có công chứng. Như vậy, bạn nên tìm và ký lại hợp đồng chuyển nhượng có công chứng với người chủ đất cũ để đảm bảo điều kiện này. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    21/10/2017, 10:02:11 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Luật sư đã tư vấn ở trên.

  • Xem thêm     

    21/10/2017, 10:01:03 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Luật sư đã tư vấn ở trên

  • Xem thêm     

    20/10/2017, 09:28:49 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo quy định của Bộ luật Dân sự, với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như nhà ở, ô tô, xe máy… thì việc chuyển nhượng bắt buộc phải lập thành văn bản, phải được công chứng, chứng thực bởi cơ quan có thẩm quyền. Sau đó, bên mua có trách nhiệm liên hệ với cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản để thực hiện thủ tục trước bạ sang tên.

    Theo quy định tại Điều 35 Luật Công chứng, Phòng công chứng chỉ chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở khi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu. Do vậy, việc mua bán đối với nhà ở chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu thì chỉ có thể là hợp đồng viết tay.  

     Trường hợp của bạn như trên mua lại căn nhà 20m2 trong tổng số 60m2(đã có sổ hồng)  Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng với những thửa đất diện tích 20m2 thì chắc chắn là không được vì không đủ hạn mức đất nhà nước công nhận. Điều này có nghĩa là nhà đất bạn mua không được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

    Tài sản không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nên rất khó khăn trong việc xác minh nguồn gốc tài sản, do vậy tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà bạn không thể biết được khi giao dịch hợp đồng. Do vậy sau khi mua chủ mới và bạn có thể phải đối mặt với tranh chấp pháp lý bất cứ lúc nào.

     Việc bạn mua của người chủ trước bán lại viết giấy tay thì việc mua bán nhà viết tay sẽ bị vô hiệu. Bộ luật dân sự quy định khi hợp đồng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

    Trên đây là nội dung trả lời của tôi cho câu hỏi của bạn. Nếu bạn có thắc mắc hay vấn đề gì để làm sáng tỏ thì hãy liên lạc trực tiếp điện thoại với tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

  • Xem thêm     

    18/10/2017, 10:28:53 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo quy định tại Điều 143, Điều 144 Luật đất đai, UBND cấp tỉnh căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch phát triển nông thôn và quỹ đất của địa phương để quy định hạn mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân, quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở.
    Điều 29 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu như sau:

    - Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày văn bản quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu được tách thửa có hiệu lực thi hành mà diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

    - Không được công chứng, chứng thực, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không được làm thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    - Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới.

    Theo Điều 12 quyết định  12 /2015/QĐ-UBND ban hành quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng các loại đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đê nghị bạn đọc và nghiên cứu kỹ văn bản này.

  • Xem thêm     

    18/10/2017, 10:08:59 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Gia đình bạn có đơn xin mượn 4 sào đất nông nghiệp ( ao, đất ven bờ khe )  để sản xuất NLN, được Chủ tịch UBND xã ký phê duyệt. Gia đình bạn sử dụng ổn định 17 năm đúng mục đích ( trồng cây, chăn nuôi ). Việc UBND xã thời kỳ đó cho mượn là thuộc quyền quản lý của chính quyền cấp xã. Tuy nhiên, việc cho mượn đất để làm nông nghiệp không đúng theo quy định của pháp luật, vì thời điểm năm 1994, việc áp dụng Luật Đất đai năm 1993 trong quản lý và sử dụng đất không hình thành quan hệ mượn quyền sử dụng đất. Việc sử dụng đất để ở của hộ gia đình chỉ được thực hiện trên cơ sở quyết định giao đất của UBND cấp huyện hoặ cho thuê của UBND cấp xã. Do vậy, việc UBND xã cho gia đình mượn đất để sản xuất nông nghiệp như trong trường hợp này là việc làm trái nguyên tắc, không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai. 

    Quy trình việc thu hồi đất được thực hiện theo một quy trình cơ bản như sau:

    Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất. Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi.

    Ủy ban nhân dân cấp huyện: thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

    Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

    Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc.

    Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã  nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tạ trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

    Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.

    Bước 5: Quyết định phê duyệt và niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

    – Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày;

    – Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã  phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

    Theo quy định tại Điều 93 Luật đất đai, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

    Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.

    Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.

    Trường hợp của bạn, để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của gia đình bạn. Trong trường hợp này, gia đình bạn không được bồi thường thiệt hại về đất nhưng được xem xét để bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất. Cụ thể là công sức tôn tạo đất, đền bù tài sản, hoa màu trên đất, cải tạo đất....

  • Xem thêm     

    18/10/2017, 11:18:58 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Căn cứ theo Công văn Số 1568/BTNMT-ĐKTKĐĐ của Bộ Tài nguyên và môi trường thì Sổ mục kê đất được lập để phục vụ cho Nhà nước nắm đầy đủ ruộng đất và thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai theo quy định của pháp luật đất đai; do đó Sổ mục kê đất phải thể hiện toàn bộ các thửa đất (gồm cả thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (dưới đây gọi là giấy chứng nhận) và thửa chưa được cấp giấy chứng nhận), các công trình thủy lợi và sông ngòi, kênh rạch suối trong phạm vi địa giới hành chính từng xã, phường, thị trấn. Những thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện trên Sổ mục kê đất thống nhất với thông tin trên giấy chứng nhận, những thửa đất chưa cấp giấy chứng nhận thì thông tin của thửa thể hiện theo kết quả điều tra, đo đạc hiện trạng đang sử dụng đất mà chưa có giá trị pháp lý về quyền sử dụng đất. Vì vậy, Sổ mục kê đất cũng không được coi là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai.
    Chỉ có Sổ đăng ký ruộng đất (lập theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) và Sổ địa chính (được lập theo quy định tại Quyết định số 499 QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC) mới được coi là loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai) vì các Sổ này chỉ ghi đối với những người sử dụng đất đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và được Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã thẩm tra, xác nhận là sử dụng hợp pháp, đồng thời được ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt công nhận (theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK) hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận (theo quy định tại quyết định số 499/QĐ-ĐC và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC).
     
  • Xem thêm     

    17/10/2017, 05:48:26 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có làm sổ đỏ cho 2 phần đất, phần thứ nhất được công nhận và phần còn lại không được công nhận (do phần đó là đất công ích của xã). Tuy diện tích đất công ích này cũng chưa được xử lý gì. Dù diện tích đất này chưa được cơ quan chính quyền xử lý, thì bạn vẫn không được công nhận đối với phần đất này.

    Căn cứ về điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 2 điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn luật đất đai 2013 quy định về các trường hợp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có trường hợp:

    "2. Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn."

    Như vậy, đối với phần diện tích đất công ích mà bạn đã quản lý từ năm 1995, hiện giờ bạn đã xây rào bao xung quanh khuôn viên và không có ai tranh chấp thưa kiện thì vẫn không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đây là đất thuộc quỹ đất công ích của địa phương nên diện tích đất này của gia đình anh không được công nhận quyền sử dụng đất.

    Theo căn cứ tại điểm đ khoản 1 điều 118 về các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất và các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất quy định:

    1. Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này:

    đ) Cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối;

    Căn cứ vào quy định trên, bạn chỉ được quyền thuê đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất để được sử dụng đất công ích một cách hợp pháp sau đó bạn đề nghị để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hóa giá chuyển đổi để được nhà nước công nhận.

  • Xem thêm     

    17/10/2017, 11:43:30 SA | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    toanvv
    toanvv
    Top 25
    Male
    Luật sư quốc gia

    Hà Nội, Việt Nam
    Tham gia:23/09/2009
    Tổng số bài viết (2218)
    Số điểm: 12665
    Cảm ơn: 1
    Được cảm ơn 1615 lần


    Theo thông tin bạn cung cấp, hiện tại bạn đang cho thuê thế chấp nhà theo hợp đồng và theo hợp đồng thuê sẽ hết hạn vào tháng 4 năm 2014. Và hiện nay bạn đang không muốn cho thuê khi hợp đồng thuê căn nhà chấm dứt đó nữa. Căn cứ tại Điều 24 Nghị định 163/2006/NĐ – CP quy định về việc thế chấp tài sản đang cho thuê:

     

    " Trong trường hợp thế chấp tài sản đang cho thuê thì bên thế chấp thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp; nếu tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ thì bên thuê được tiếp tục thuê cho đến khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác."

    Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của bên thuê trong trường hợp có sự thay đổi về sở hữu đối với tài sản thuê. Bên thế chấp vẫn sẽ tiếp tục để bên thuê nhà tiếp tục thuê.

    Căn cứ tại Điều 474 Bộ luật dân sự 2015 về Thời hạn thuê

    1. Thời hạn thuê do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì được xác định theo mục đích thuê.

    2. Trường hợp các bên không thỏa thuận về thời hạn thuê và thời hạn thuê không thể xác định được theo mục đích thuê thì mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho bên kia trước một thời gian hợp lý.”

    Như vậy, trước khi kết thúc hợp đồng thuê nhà mà bên kia vẫn có ý định thuê tiếp và bạn lại không muốn tiếp tục hợp đồng thuê, thì bạn có thể thông báo trước cho bên kia trong một khoảng thời gian hợp lý. Và trong trường hợp bạn muốn chấm dứt hợp đồng sớm trước thời hạn thì phải trình bày lý do ngôi nhà đang bị thế chấp thì bên thuê sẽ thông cảm và hiểu để thoả thuận chấm dứt hợp đồng thuê theo đúng quy định như đã thoả thuận.

81 Trang «<65666768697071>»