Tư Vấn Của Luật Sư: Luật sư Lê Văn Hoan - lvhoan

60 Trang «<585960
  • Xem thêm     

    08/12/2008, 03:47:05 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Từ điều 450 đến điều 455 BLDS quy định về hợp đồng mua bán nhà ở, nêu rất rõ trách nhiệm của các bên.

    Việc mua bán nếu không có thỏa thuận nào khác thì bên bán phải có trách cùng bên mua tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Nếu bên bán hay người môi giới không thực hiện nghĩa vụ của mình như đã giao kết (kể cả bằng miệng) thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án nơi có căn nhà.

    Tuy nhiên, trước khi bạn gửi đơn tới Tòa thì bạn gởi đơn tới UBND phường để tiến hành hòa giải.Những người làm chứng trong việc mua bán này sẽ giúp Tòa làm rõ vấn đề trong vụ kiện này.

  • Xem thêm     

    04/12/2008, 03:10:22 CH | Trong chuyên mục Đất đai, Nhà cửa

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn.Tại Điều 4 nghị định 197 ngày  23/12/2004 của Chính phủ quy định vể Tái định cư quy định:"Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:

    1. Bồi thường bằng nhà ở.

    2. Bồi thường bằng giao đất ở mới.3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.".Trong trường hợp như nhà bạn không được tái định cư là đúng.

    Nếu bạn cần tư vấn gì thêm vui lòng liên hệ: VPLS LÊ VĂN, 131 Thống Nhất, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM, ĐT: 0909886635, tôi sẽ giúp bạn.Chúc bạn thành công!LS LÊ VĂN HOAN.

  • Xem thêm     

    02/12/2008, 11:17:40 SA | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!

    Việc bạn viết biên nhận nhận tiền của chủ phương tiện, nhưng trong nội dung không đề cập gì đến việc bãi nại cho họ hoặc cam kết không khiếu nại thì công an không có quyền cho phép lấy xe ra cho đến khi vụ án đựoc giải quyết xong.

    Theo tôi, khi họ thương trả tiền thì bạn cứ nhận, nhưng chỉ ghi nội dung là "có nhận số tiền" hỗ trợ thôi còn tuyệt nhiên không làm đơn bãi nại cho họ.

    LS HOAN.
  • Xem thêm     

    01/12/2008, 03:13:50 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần



    Theo mục II.1.4b,1)
    NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 01/2004/NQ-HĐTP NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 2004 HƯỚNG DẪN  ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG quy định:

    "Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó.

    Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm sức khỏe mất khả năng lao động, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường".


    Còn chiếc xe nếu bạn không muốn nhận lại thì bạn phải thương lượng với chủ xe, nếu không thương lượng được thì họ chỉ bồi thường bằng chi phí sửa chữa.
  • Xem thêm     

    28/11/2008, 03:30:02 CH | Trong chuyên mục Lĩnh vực Luật khác

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!


    Về trách nhiệm hình sự, theo điều
    202 BLHS, tại khỏan 1 có quy định:


    "Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm."


    Như vậy về trách nhiệm hình sự thì bạn đã rõ.


    Về trách nhiệm dân sự, thì chủ phương tiện có trách nhiệm bồi thường cho bạn theo điều
    623 BLDS:

     
    "Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra


    1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.


    Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.


    2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.


    3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:


    a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

    b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.


    4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

    Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.


    "
    Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 


    1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:


    a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

    b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

    c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.


    2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.


    Điều 612.
    Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm


    1. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.


    2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:


    a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

    b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.".


    Như vậy bạn đã có căn cứ để xác định yêu cầu bồi thường thiệt hai cho phù hợp với trường hợp của bạn.

    Nếu bạn còn thắc mắc gì vui lòng liên hệ:0909886635 LS HOAN.

  • Xem thêm     

    26/11/2008, 02:30:33 CH | Trong chuyên mục Doanh nghiệp

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!

    Tại Điều 39 Luật Doanh Nghiệp có quy định

    “Điều 39. Thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

    Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn bằng loại tài sản góp vốn như đã cam kết. Trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết thì phải được sự nhất trí của các thành viên còn lại; công ty thông báo bằng văn bản nội dung thay đổi đó đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chấp thuận sự thay đổi.


    Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thông báo bằng văn bản tiến độ góp vốn đăng ký đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày cam kết góp vốn và phải chịu trách nhiệm cá nhân về các thiệt hại cho công ty và người khác do thông báo chậm trễ hoặc thông báo không chính xác, không trung thực, không đầy đủ.


    2. Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết.

    3. Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách sau đây:

    a) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp;

    b) Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty;

    c) Các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty.

    Sau khi số vốn còn lại được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và công ty phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này.

    4. Tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp có các nội dung chủ yếu sau đây:


    a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

    b) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

    c) Vốn điều lệ của công ty;

    d) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với thành viên là tổ chức;

    đ) Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên;

    e) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;

    g) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty.


    5. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị rách, bị cháy hoặc bị tiêu huỷ dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.”


    Như vậy DN của bạn rơi vào khỏan 3 của điều luật.

    Nếu bạn cần tư vấn gì thêm vui lòng liên hệ: VPLS LÊ VĂN, 131 Thống Nhất, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM, ĐT: 0909886635, tôi sẽ giúp bạn


    Chúc bạn thành công!

    LS LÊ VĂN HOAN

  • Xem thêm     

    26/11/2008, 09:22:23 SA | Trong chuyên mục Hình sự

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!

    Trong trường hợp này, bạn nên làm đơn "đề nghị giải quyết" gửi tới UBND phường (xã) nơi bà Hoàng sinh sống. Nếu UBND phường hòa giải không thành, hoặc bà Hoàng không thực hiện thì khởi kiện bà Hòang ra Tòa án quận (huyện) nơi bà Hoàng sinh sống, để đòi lại tiền

    Nếu bạn cần tư vấn gì thêm vui lòng liên hệ: VPLS LÊ VĂN, 131 Thống Nhất, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, Tp. HCM, ĐT: 0909886635, tôi sẽ giúp bạn

    Chúc bạn thành công!

    LS LÊ VĂN HOAN

  • Xem thêm     

    17/11/2008, 05:19:44 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


     

    CHÀO BẠN! 

    Điều 175 BLHS quy định về Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.

    Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

    a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

    b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này.

    Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

    Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

    Về khung hình phạt thì bạn đã rõ. Việc mời luật sư, nếu bạn mời ngay từ giai đọan này, thì quyền lợi hợp pháp của em bạn sẽ được đảm bảo hơn. Nếu bạn cần tư vấn thêm.

    Vui lòng liên hệ: VPLS LÊ VĂN, ĐT: 38960937, 0909886635.

    Chúc bạn thành công!

    LS Hoan.

     

  • Xem thêm     

    04/11/2008, 04:09:40 CH | Trong chuyên mục Hình sự

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!

    Trường hợp của bạn sẽ rất khó nếu bạn không biết cô ta hiện nay đang ở đâu. Bạn cố gắng tìm cô ta, khi gặp phải giữ cô ta lại và báo cho công an nơi gần nhất. Trong trường hợp bạn không thể tìm thấy cô ta, bạn làm đơn tố giác tội phạm tại công an phường hoặc Viện kiểm sát quận (huyện) nơi cô ta thường trú. Bạn cần tư vấn hoặc gặp khó khăn, nếu cần sự giúp đỡ bạn có thể gọi SĐT: 0909886635 (LS Hoan) sẽ tư vấn cho bạn.

    Chúc bạn thành công.

  • Xem thêm     

    04/11/2008, 03:55:08 CH | Trong chuyên mục Hợp đồng

    lvhoan
    lvhoan
    Top 50
    Male
    Luật sư địa phương

    Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tham gia:24/07/2008
    Tổng số bài viết (1289)
    Số điểm: 7349
    Cảm ơn: 4
    Được cảm ơn 279 lần


    Chào bạn!

    Trước tiên, tôi khẳng định, nếu gia đình bạn có mượn nợ thì phải trả. 

    Tuy nhiên việc trả như thế nào là do hai bên thương lượng. Nếu bên cho mượn không đồng ý thì khởi kiện ra tòa. Việc có tính lãi hay không, nếu có thì tính lãi suất bao nhiêu sẽ do Tòa quyết định.

    Nếu việc vay mượn nợ mà không thỏa thuận lãi suất thì không được phép tính lãi, trừ khi người vay đồng ý. Sau khi bản án có hiệu lục pháp luật, khi đó nếu gia đình bạn không trả, mà người được thi hành bản án yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự mới ra quyết định thi hành bản án.

    Nếu gia đình bạn có tài sản gì thì cơ quan thi hành án có quyền kê biên để đảm bảo cho việc thi hành bản án. (Điều 471, 474 BLDS; điều 7, chương 4 Pháp lệnh thi hành án).

    Có vấn đề gì cần hỏi thêm bạn vui lòng liên lạc Luật sư Lê Văn Hoan, ĐT: 0909886635

60 Trang «<585960